3 thg 6, 2012

Nỗi lo ngân hàng ế vốn

Cuối tháng 5.2012, các doanh nghiệp vẫn kêu vì không có vốn kinh doanh và nhiều doanh nghiệp hoạt động cầm chừng, hoặc đã phải đóng cửa từ khá lâu. Trong khi đó các ngân hàng thương mại ế vốn, không cho vay được và đổ xô đi mua trái phiếu chính phủ với lãi suất khoảng 10%/năm, thấp hơn lãi suất huy động 12%/năm.
Nỗi lo ngân hàng ế vốn
Lãi suất ngân hàng sẽ tiếp tục giảm (ảnh minh hoạ). Ảnh: Kỳ Anh
Thậm chí lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn ngắn chỉ trong khoảng 4,5 đến 8%/năm. Xem ra có vẻ hết sức nghịch lý, nhưng thật ra không phải vậy. Điều đó có logic riêng của nó.

Thời kỳ lạm phát cao kéo theo lãi suất cao, ngân hàng khó huy động vốn và gặp khó khăn thanh khoản dường như đã là quá khứ. Đã có thể thấy những kết quả của các biện pháp thắt chặt chính sách tiền tệ trước đây, sau một thời gian trễ bình thường khoảng nửa năm. Lạm phát dịu đi. Các biện pháp hành chính quyết liệt của ngân hàng nhà nước, thực ra không nên làm, nhưng cực chẳng đã phải làm vì dư địa của các chính sách tiền tệ mang tính thị trường đã rất hạn hẹp, đã khiến lãi suất huy động và cho vay bắt đầu giảm.
Mặt khác, người dân và các doanh nghiệp đã thay đổi cách ứng xử của mình, chi tiêu căn cơ hơn. Cùng với nhiều doanh nghiệp hoạt động cầm chừng hay phá sản, sự thận trọng chi tiêu của họ và của người dân đã làm cho cầu về vốn giảm xuống. Mà biểu hiện dễ thấy nhất là tổng dư nợ của các ngân hàng giảm, trong khi tổng tiền gửi vẫn tăng. Và những thay đổi này khiến cho lãi suất cho vay cũng giảm theo. Một quá trình phản hồi, khép kín và tự tăng cường để kéo lãi suất xuống đã được khởi động.
Lãi suất giảm, giá đồng vốn giảm, cùng với sự trì trệ của hoạt động kinh tế kéo mặt bằng giá xuống và làm cho lạm phát dịu đi. Quá trình này nếu đi quá đà sẽ dẫn tới chỗ các doanh nghiệp và người dân không còn có khuyến khích để vay tiền nữa, tức là các ngân hàng sẽ ứ đọng vốn, tín dụng bị “đóng băng” và đẩy nền kinh tế vào trạng thái trì trệ. Đấy là một trạng thái rất nguy hiểm cần phải tránh. Có lẽ gói 29 ngàn tỉ hỗ trợ doanh nghiệp nhằm chặn tình thế xấu có thể xảy ra này.
Quá trình này còn đang diễn ra. Các ngân hàng không cho các khách hàng truyền thống, các doanh nghiệp và người dân, vay như trước kia do sợ rủi ro và tổng các khoản vay này giảm xuống, mức huy động chưa thể hiệu chỉnh kịp nên các ngân hàng dư vốn. Phần vốn dư này các ngân hàng phải kinh doanh sao cho có lợi nhất cho mình.
Và mua trái phiếu chính phủ là một cách an toàn để làm điều đó, ngoài nhiều ưu điểm của đầu tư vào trái phiếu chính phủ như rủi ro thấp, có thể dùng để làm dự trữ bắt buộc, làm tài sản thế chấp dễ dàng, và dễ biến thành tiền mặt.
Như thế chẳng có gì nghịch lý trong việc ngân hàng thương mại huy động 12%/năm nhưng lại có vẻ chịu lỗ 2%/năm để mua trái phiếu chính phủ với lãi suất 10%/năm cả, vì nếu không họ còn lỗ nặng hơn. Đó là chưa nói đến việc trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dài và lãi suất còn có thể xuống, thí dụ, 7%/năm, thì khi đó lãi suất 10%/năm có thể rất hấp dẫn.
Năm 2012, Chính phủ đặt kế hoạch huy động 159.000 tỉ đồng trái phiếu. Giả sử Chính phủ huy động được số này, và các ngân hàng thương mại mua 86% (như tỉ lệ hiện nay) số trái phiếu này thì số trái phiếu chính phủ mà các ngân hàng thương mại nắm giữ sẽ cỡ 137 ngàn tỉ (chiếm khoảng 5% của tổng dư nợ của các ngân hàng, chắc ở khoảng như năm trước cỡ 2.600 ngàn tỉ đồng).
Tất nhiên, việc Chính phủ, với tư cách khách hàng, chiếm đến khoảng 5% tổng dư nợ của các ngân hàng, thì Chính phủ là một khách hàng lớn, và có thể khiến nhiều khách hàng khác không tiếp cận được đến số vốn này. Điều đó có vẻ ưu ái cho các ngân hàng và có thể tạo khuyến khích cho các ngân hàng thương mại “ỷ lại” vào khách hàng lớn này mà không nhanh nhạy lo cho các khách hàng chính của mình là các doanh nghiệp và người dân. Đúng như vậy, nhưng với tỉ lệ khoảng 5% thì việc này, nếu có tác động cũng chỉ ở mức 5%.
Ngoài những điểm dở này, việc mua trái phiếu chính phủ cũng có cái lợi của nó. Lãi suất trái phiếu chính phủ có thể là chỉ dẫn tốt. Nó cho thấy lãi suất cho các doanh nghiệp và dân cư vay sẽ còn phải giảm (hiện đang ở mức 15-16% vẫn còn quá cao đối với họ), nói cách khác các ngân hàng sẽ còn tiếp tục giảm lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Nó cũng giúp các ngân hàng.
Do kinh tế đình trệ và những thay đổi về lãi suất như nêu trên, ít có khả năng lạm phát cao (năm 2008 chỉ số giá bình quân tăng 22,97% nhưng sang 2009 chỉ còn 6,88%), cho nên xu hướng giảm lãi suất vẫn sẽ tiếp tục. Và đến khi vòng giảm lãi suất này đạt tới một điểm nhất định, thì ngân hàng nhà nước nên bãi bỏ các biện pháp hành chính và chỉ sử dụng các công cụ bình thường để điều hành lãi suất. Và phải hết sức tránh việc đóng băng tín dụng như nêu ở trên.
Nguyễn Quang A


Nguồn: Lao động

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét