JANE NAKANO
Jane Nakano, nghiên
cứu sinh Chương trình Năng lượng và An ninh Quốc gia tại Trung tâm Nghiên cứu
Chiến lược và Quốc tế, giải thích rằng "tranh chấp đất hiếm hiện nay hẳn
được coi như là một lời nhắc nhở về tầm quan trọng cơ bản của việc đa dạng
hóa nguồn cung cấp, và giá trị lâu dài rằng nghiên cứu và phát triển đóng vai
trò trong việc đối phó với nhiều thách thức liên quan nguồn tài nguyên và
năng lượng mà xã hội ngày nay phải đối mặt."
Mỹ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu – ba nhà tiêu thụ chính
nguyên liệu đất hiếm của Trung Quốc – đã chính thức khiếu nại lên Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) hồi tháng Ba về việc Trung Quốc hạn chế xuất khẩu
đất hiếm. Mấy tuần sau đó, Trung Quốc thông báo cho WTO về mục tiêu thúc đẩy
phát triển bền vững trong ngành này. Một số nhà phân tích nghi ngờ liệu đây
có phải là một phần trong kế hoạch của Trung Quốc nhằm phá vỡ các khiếu nại
của quốc tế bằng việc đề ra một thỏa thuận có tính chất độc quyền nhằm kiểm
soát xuất khẩu đất hiếm. Có người thì băn khoăn liệu đây có thể là một bước
đi nữa trong cuộc tranh cãi đang leo thang với Trung Quốc về nguồn cung đất
hiếm trên toàn cầu.
Việc lập ra một hiệp hội công nghiệp không nên coi là điều
đáng ngạc nhiên. Động thái này phù hợp với các nỗ lực đang diễn ra của Trung
Quốc nhằm củng cố ngành đất hiếm ở trong nước, vốn đi cùng với sự xuống cấp
về môi trường và khai thác bất hợp pháp. Quy trình sản xuất đất hiếm truyền
thống ở Trung Quốc sử dụng axít độc hại để lọc, và sự hiện diện của các
nguyên liệu phóng xạ như Thorium trong đất hiếm tạo ra nhiều nguy cơ cho thợ
mỏ. Thực tế, sự gia tăng kiểm tra và thực thi các tiêu chuẩn về môi trường
trong các quá trình sản xuất đất hiếm vào cuối những năm 1980 đã dẫn đến chi
phí quá cao, khiến các mỏ sản xuất ở ngoài Trung Quốc không thể trụ vững.
Mặc dù đất hiếm – loại nguyên liệu gồm; 17 nguyên tố và là
thành phần chủ chốt trong nhiều sản phâm công nghệ cao như điện thoại di động
thông minh, pin chạy ôtô hybrid, hệ thống lade dùng trong quân sự – không
phải là hiếm, Trung Quốc hiện chiếm 90% nguồn cung toàn cầu. Khi xã hội Trung
Quốc có ý thức hơn về các hậu quả môi trường do phát triển kinh tế nhanh
chóng – và ngành đất hiếm chỉ là một trong rất nhiều ngành thuộc số này.
Trung Quốc áp dụng một loạt các biện pháp để khắc phục điều kiện tiêu cực
trong ngành, như áp hạn ngạch sản xuất năm 2001 và hạn ngạch xuất khẩu vào giữa
những năm 2000.
Hạn ngạch xuất khẩu trong những năm đầu tiên nhìn chung
vẫn đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ toàn cầu. Tuy nhiên, Trung Quốc bắt đầu
thắt chặt hạn ngạch xuất khẩu vào cuối những năm 2000, dẫn đến việc tăng giá
đột biến đất hiếm vào đầu năm 2010. Sự thống trị nguồn cung đất hiếm toàn cầu
của Trung Quốc và ảnh hưởng của nước này đối với mức giá được thể hiện rõ hơn
vào mùa Thu năm 2010, khi Trung Quốc tạm ngừng xuất khẩu đất hiếm cho Nhật
Bản sau khi xảy ra tranh chấp lãnh thổ giữa Tôkyô và Bắc Kinh đối với quần
đảo mà Nhật Bản gọi là Senkaku, còn Trung Quốc thì gọi là Điếu Ngư, ở biển
Hoa Đông.
Quyết định của Mỹ đưa vụ việc ra WTO diễn ra sau nhiều năm
xem xét và những phàn nàn của doanh nghiệp Mỹ về cách hành xử của Trung Quốc
trong ngành này. Oasinhtơn đã kết luận rằng chính sách hạn chế xuất khẩu của
Trung Quốc là cố tình làm tăng giá đối với các nhà sản xuất bên ngoài Trung
Quốc, dẫn tới các lợi thế không công bằng dành cho các nhà sản xuất nội địa
của nước này. Oasinhtơn cũng chỉ ra sức ép mà các hạn chế xuất khẩu này tạo
ra đối với các nhà sản xuất từ Mỹ và các nước khác để khiến họ phải chuyển
sản xuất và công nghệ đến Trung Quốc.
Việc nộp đơn lên WTO vào tháng Ba đã khởi đầu cho thời kỳ
tham vấn giữa các nước có liên quan để tìm kiếm một giải pháp. Nếu quá trình
tham vấn thất bại, tranh chấp này có thể được đưa ra một ủy ban của WTO để
phán quyết – một quy trình có thể kéo dài nhiều năm. Việc khởi kiện các chính
sách đất hiếm của Trung Quốc diễn ra sau khi WTO có một phán quyết vào đầu
năm nay có lợi cho EU, Mỹ và Mêhicô liên quan đến các chính sách xuất khẩu
của Trung Quốc đối với các nguyên liệu thô như bôxít, magiê và thiếc.
Lý do bác bỏ của Trung Quốc rất nhiều khả năng tập trung
vào vấn đề xuống cấp về môi trường do WTO cho phép hạn chế xuất khẩu vì lý do
môi trường và y tế. Trung Quốc có khả năng cũng sẽ nhẩn mạnh rằng các chính
sách hạn chế là các biện pháp “liên quan tới việc bảo tồn các nguồn tài
nguyên có thể cạn kiệt”.
Tuy nhiên, Mỹ và các nước khởi kiện khác sẽ lập luận rằng
hạn ngạch sản xuất của Trung Quốc có xu hướng tăng lên từ trước, trong khi
hạn ngạch xuất khẩu lại có xu hướng giảm từ cuối những năm 2000.
Bất kể các thủ tục giải quyết sẽ diễn ra như thế nào, hiện
chưa rõ liệu một phán quyết của WTO ủng hộ các nước khởi kiện có chắc chắn
đảm bảo nguồn cung các nguyên liệu này trên thị trường toàn cầu hay không.
Cho đến khi có một phán quyết như vậy – nếu vụ việc được đưa ra một ủy ban
của WTO để giải quyết – sẽ phải mất từ hai đến ba năm, và nhiều cơ sở sản
xuất bên ngoài Trung Quốc sẽ gần đạt đến giai đoạn đi vào hoạt động.
Ngoài ra, một số nhà phân tích chỉ ra rằng Trung Quốc có
thể trở thành nước nhập khẩu đất hiếm vào giữa thập kỷ này. Do vậy, giá trị
cuối cùng của quá trinh giải quyết tranh chấp tại WTO có thể chỉ ở mức là một
nỗ lực quốc tế nhằm tiếp tục khuyến khích Trung Quốc tôn trọng và tuân thủ
pháp luật trong các giao dịch quốc tế.
Nhiều chủ thể nước ngoài sử dụng đất hiếm trong chuỗi cung
ứng của mình đã ý thức được sự phụ thuộc của họ vào Trung Quốc đối với các
sản phẩm này từ nhiều năm nay. Kể từ khi Trung Quốc giảm đáng kể hạn ngạch
xuất khẩu vào năm 2010, các nhà tiêu dùng nước ngoài này đã gia tăng nỗ lực
để đa dạng hóa nguồn cung bên ngoài Trung Quốc.
Trong số các nước ngoài Trung Quốc có tiềm năng lớn vê
khai thác đất hiếm phục vụ thương mại có Ôxtrâylia, Braxin, Canađa và Mỹ. Các
nhà sử dụng đất hiếm còn phát triển công nghệ để giảm hàm lượng đất hiếm
trong quá trình sản xuất, hoặc sử dụng các biện pháp thay thế đất hiếm.
Việc củng cố ngành đất hiếm của Trung Quốc gần đây có thể
không phải là động thái được hoan nghênh vì nó sẽ làm tăng giá sản phẩm này.
Tuy nhiên, có thể là quá hạn hẹp nếu coi đây chỉ là một biện pháp đơn giản
nhằm đối phó với các đơn khiếu kiện của quốc tế về các chính sách hạn chế
xuất khẩu của Trung Quốc. Trên thực tế, việc củng cố ngành này có thể có
nhiều, mục tiêu, như thể hiện cho công chúng trong nước thấy rằng đây là nỗ
lực vừa để giảm Ô nhiễm và xóa bỏ việc khai thác bất hợp pháp, đảm bảo nguồn
cung đầy đủ cho các nhà tiêu thụ nội địa, và vừa khuyến khích xuất khẩu có
giá trị cao hơn. Không dễ gì, và cũng không có ý nghĩa gì, để xác định yếu tố
nào là quan trọng nhất.
Trong khi đó, sự căng thẳng về đất hiếm hiện nay nên được
coi là sự nhắc nhở về tầm quan trọng của việc đa dạng hóa nguôn cung, và giá
trị của công tác nghiên cứu và phát triển trong việc đối phó với những thách
thức liên quan đến năng lượng và tài nguyên mà xã hội phải đối mặt ngày nay.
Jane Nakano là chuyên
viên của Chương trình Năng lượng và An ninh Quốc gia Trung tâm Nghiên cứu
Chiến lược và Quốc tế (CSIS). Có thể liên lạc qua email: jnakano@csis.org.
Nguồn: Góc Sân
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét