János Kornai
Giáo sư Kinh tế, Giáo sư danh dự
Đại học Harvard và Đại học Budapest
Chủ tịch Hiệp hội kinh tế quốc tế
Dẫn Nhập
Việc gắn xã hội chủ nghĩa và thị trường với nhau có lịch
sử dài. Đã xuất hiện những sự kết hợp và liên tưởng trong các cuộc tranh luận
kéo dài từ lâu và đôi khi rất sôi nổi, trong cả các giới khoa học, lẫn trong
lĩnh vực chính trị. Thí dụ, tôi chỉ nhắc đến hai khái niệm được sử dụng rộng
rãi: chủ nghĩa xã hội thị trường và nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.[1]
Mục đích chính của Hội nghị bàn tròn của chúng tôi là xem
xét trải nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam gần đây. Việc nghiên cứu lịch sử
thực của hai nước này có thể giúp việc suy nghĩ lại quan hệ giữa các khái
niệm chủ nghĩa xã hội và thị trường. Cùng lúc đó cách tiếp cận theo chiều
ngược lại cũng có thể rất hữu ích. Việc nhắc lại các cuộc tranh luận chính
trị và khoa học của quá khứ cũng có thể đóng góp cho sự hiểu kỹ hơn những
diễn biến thực của ngày hôm nay. Các nhà phân tích dễ bị lạc vào những phần
vụn vặt. Việc đối sánh những kinh nghiệm ngày nay với các cuộc tranh luận sâu
rộng hàng thế kỷ đặt sự phát triển của Trung Quốc và Việt Nam vào một viễn
cảnh lịch sử rộng hơn.
Các cuộc tranh luận này đã luôn đặc trưng bởi những rối
loạn khái niệm. Tiểu luận của tôi thử làm làm sáng tỏ khái niệm.
Giải nghĩa khái niệm
thị trường
Giải nghĩa khái niệm thị trường không phức tạp – ít nhiều
– có sự đồng thuận. Thị trường là cơ chế phục vụ cho sự điều phối các hoạt
động con người, sự tổ chức tích hợp xã hội.[2]
Thị trường không phải là cơ chế điều phối, tích hợp duy
nhất. Tôi chỉ nhắc duy nhất đến một cơ chế hoạt động và mạnh khả dĩ khác là
cơ chế điều phối quan liêu, cơ chế đặc biệt quan trọng nhìn từ quan điểm kinh
nghiệm Trung Quốc và Việt Nam. Trong quá khứ qua nhiều thập niên cơ chế này
đã đảm bảo vai trò điều phối chính ở hai nước này. Điều phối quan liêu và thị
trường khác căn bản với nhau về mức độ tập trung hay phân tán, về bản chất
của các quá trình thông tin, về các khuyến khích. Điều phối thị trường và
điều phối quan liêu chỉ là hai trong số nhiều loại cơ chế điều phối do lịch
sử tạo ra, tuy tôi nói thêm rằng hai cơ chế này có vai trò đặc biệt quan
trọng. Với thời gian các xã hội – trong khuôn khổ của các quá trình có ý thức
hay tự phát – lựa chọn giữa các cơ chế khả dĩ. Cải cách ở Trung Quốc và Việt
Nam, bên cạnh những thay đổi khác, đã mang lại sự dịch chuyển xa khỏi ưu thế
của điều phối quan liêu sang phía ưu thế của điều phối thị trường.
Giải nghĩa khái niệm
“chủ nghĩa xã hội”
Trong khi có sự thống nhất rộng rãi liên quan đến ý nghĩa
của từ thị trường, thì lại xuất hiện những khó khăn lớn liên quan đến khái
niệm xã hội chủ nghĩa. Có nhiều cách giải nghĩa. Đây không phải là những sự
khác biệt quan điểm ngôn ngữ theo kiểu chẻ sợi tóc làm tư. Trên bề mặt có vẻ
là các ý kiến đối chọi nhau về sự giải nghĩa của một từ duy nhất. Thực ra, sự
chia rẽ sâu sắc về lựa chọn giá trị chính trị, về các viễn cảnh khả dĩ của
“xã hội tốt”, về vạch ra chiến lược dẫn đến việc thiết lập trật tự mới, đã đè
nặng một cách nghiêm trọng lên cuộc tranh luận khái niệm. Cuộc tranh luận
không phải là về các từ, mà là sự đối chọi của những hùng biện chính trị khác
nhau và của các ý thức hệ khác nhau.[3]
Tôi hoàn toàn hiểu rằng một số đồng nghiệp của chúng tôi
phải xem xét các cân nhắc có tính chiến thuật, họ có thể không hoàn toàn nói
thẳng, và thấy có lợi hơn nếu đi quanh các định nghĩa rạch ròi. Tình hhuống
của cá nhân của tôi thì dễ dàng hơn.
Cho phép tôi tự do để gạt qua một bên tất cả các khía cạnh "ngoại
giao" và đối mặt với những vấn đề thực thụ.
Tôi trình bày năm cách giải nghĩa của từ xã hội chủ nghĩa.
Có nhiều loại giải nghĩa hơn, nhưng phần lớn những cách giải nghĩa đó có thể
được mô tả bằng một sự pha trộn hay sự kết hợp của năm trường hợp “thuần
khiết” mà tôi sẽ trình bày, hoặc như một trạm dừng tạm thời hay chuyển tiếp
giữa các trường hợp thuần khiết này.
1. Giải nghĩa thứ
nhất. Quan niệm xã hội chủ nghĩa của Marx
Hãy bắt đầu với Marx! Ông không phải là người đầu tiên
dùng từ xã hội chủ nghĩa. Sự giáo dục chính thống của chủ nghĩa Marx, như
được giảng dạy ở các nước dưới sự thống trị của đảng cộng sản, ưa thích dùng
cái mác với nghĩa xấu, “chủ nghĩa xã hội không tưởng” để chỉ các nhân vật lỗi
lạc cao vòi vọi của lịch sử chính trị và trí tuệ, Saint-Simon, Owen và
Fourier, đối sánh họ với các tư tưởng của “chủ nghĩa xã hội khoa học”. Cái
sau hình như bắt đầu với Marx.
Chắc chắn Marx đã mở ra một chương mới trong lịch sử các
tư tưởng xã hội chủ nghĩa, và các học thuyết của ông đã có – và trong thời
đại ngày nay vẫn có – ảnh hưởng to lớn đến tư duy và hành động chính trị. Vì
thế có vẻ hợp lý để chúng ta tập trung sự chú ý đến đóng góp của ông.
Chúng ta không thể khẳng định rằng Marx đã say sưa cố gắng
mô tả hệ thống xã hội chủ nghĩa tương lai. Ông đã đưa ra những nhận xét nhạo
báng đối với các giáo sư Đức, những người đã vạch ra một cách chi tiết bản
thiết kế của chế độ xã hội chủ nghĩa tương lai. Ông đã giới hạn ở việc để rơi
vãi vài ám chỉ ở chỗ này chỗ nọ. Đối
với những tư tưởng của ông về chủ nghĩa xã hội, một phần chúng ta có thể suy
ngược lại từ những cách tiếp cận phủ định* của ông: các đặc tính nào của chủ
nghĩa cộng sản là các đặc tính mà ông từ chối với sự giận dữ nhất.
Cơ cấu chính trị. Marx đã không có kế hoạch rõ ràng về chế
độ chính trị của chủ nghĩa xã hội nên như thế nào. Nhưng có thể tìm thấy các
mẩu ý tưởng trong các công trình của ông mà các mẩu ý tưởng đó cho phép chúng ta tái dựng kết cấu tư tưởng
hình thành trong ông về đối tượng. Không nghi ngờ gì Marx đã không coi trọng
“nền dân chủ tư sản”. Ông đã sẵn sàng trình bày các tư tưởng chính trị phóng
khoáng dưới màu sắc nực cười, và coi chúng là rỗng tuếch. Nổi tiếng là những
dòng được trích dẫn nhiều lần, trong đó ông lên tiếng bảo vệ chuyên chính vô
sản, cần đến nó trên con đường dẫn tới hệ thống cộng sản chủ nghĩa đã phát
triển hoàn toàn. Marx đã có vài lý tưởng vô chính phủ ngây thơ về trạng thái
chính trị của giai đoạn “chủ nghĩa cộng sản”. Bởi vì khi đó mọi nhu cầu được
thoả mãn, sự cần thiết của bất cứ loại bạo lực hay trấn áp nào tự động mất
đi. Nhà nước bắt đầu teo lại một cách tự phát, rồi cuối cùng biến mất, và chỉ
còn bộ máy tự quản duy lý của cộng đồng.
Chắc chắn Marx đã không thúc đẩy việc thiết lập một nhà
nước tàn bạo, áp bức, toàn trị leninist-stalinist-maoist. Thế nhưng, có thể
nói rằng ông đã không coi nền chuyên chính là không tương hợp với những hình
dung riêng của ông, chí ít cho giai đoạn quá độ, có độ dài không được xác
định, dẫn tới chủ nghĩa cộng sản.[4]
Sở hữu. Quan niệm của Marx là như sau.
Trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, tư bản sản xuất thuộc sở hữu của các nhà tư
bản, họ điều khiển việc sử dụng tư bản. Giai cấp tư sản bóc lột giai cấp vô
sản; không phải vì các thành viên của giai cấp tư sản là những người tàn bạo,
mà bởi vì họ là các chủ sở hữu hợp pháp của tư bản. Phải thay đổi thế giới,
đã đến lúc tước đoạt những kẻ đi tước đoạt. Từ dòng tư duy này suy ra rằng
Marx và Engels trong Tuyên ngôn Cộng sản đã lên tiếng ủng hộ chế độ công hữu.
“Giai cấp vô sản sẽ sử dụng quyền lực chính trị để từng bước chiếm đoạt tất
cả tư bản của giai cấp tư sản, để tập trung mọi công cụ sản xuất vào tay nhà
nước, tức là vào tay của giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống
trị…” (Marx-Engels, 1848, Tuyên ngôn Cộng sản, chương II). Trong khi đó Marx
đã không nêu rõ, con đường nào dẫn đến việc tất cả các tư liệu sản xuất tập
trung hoàn toàn vào trong tay nhà nước, và ông cũng chẳng làm rõ các hình
thức định chế của chế độ công hữu.
Ngần đó là chắc chắn rằng Marx đã có lập trường vững chắc
và dứt khoát về vấn đề sở hữu. Tuyên ngôn Cộng sản đã đánh giá cao vai trò
tiến bộ của chủ nghĩa tư bản sơ khai trong việc quét sạch những tàn dư phong
kiến của xã hội. Thế nhưng thời gian đã vượt quá giai đoạn này rồi, và các
nhà tư bản đã trở thành các chướng ngại của tiến bộ. Trong khía cạnh này,
Marx đã không đưa ra sự phân biệt giữa các nhà tư bản lớn và nhỏ, đơn giản
ông đã muốn thoát khỏi chủ nghĩa tư bản vì lợi ích của một hệ thống mới hiệu
quả hơn.
Cơ chế điều phối. Marx đã hiến dâng ba cuốn đồ sộ
của bộ Tư bản cho việc nghiên cứu nền kinh tế thị trường. Mối quan tâm khoa
học của ông tập trung vào việc để ông hiểu thị trường hoạt động như thế nào.
Nhận xét tổng kết của ông đối lập gay gắt với lập trường của Adam Smith một
bậc tiền bối mà ông ngưỡng mộ. Smith kính trọng sâu sắc thành tích không thể
tin nổi của “bàn tay vô hình”. Hàng triệu người ra quyết định phân tán, không
được phối hợp cuối cùng lại dẫn đến chỗ nền kinh tế đi vào trạng thái cân
bằng. Kết quả này không được Marx thích. Ngược lại, ông nhìn thấy sự biểu
hiện đặc sắc của tình trạng vô chính phủ trong thị trường. Ông đã không
nghiên cứu cẩn thận vấn đề tính hiệu quả, mà hầu như linh cảm một cách tự
phát, ông đi đến kết luận rằng hoạt động của thị trường dẫn đến lãng phí.
Các tư tưởng của ông liên quan đến chủ nghĩa xã hội – hệt
như những hình dung của ông về chế độ chính trị của chủ nghĩa xã hội – có thể
được tái hiện bằng cách tiếp cận phủ định. Cơ chế điều phối của chủ nghĩa xã
hội không thể là cái gì khác, mà là cái ngược lại của cơ chế hoạt động trong
chủ nghĩa tư bản. Nếu cái cơ chế đó là phi duy lý – thì sự điều phối phải là
duy lý trong chủ nghĩa xã hội. Sự phân bổ có ý thức và hợp lý của lực lượng
sản xuất và thời gian lao động sẽ xảy ra. Theo thói quen của mình, Marx đã
không vạch ra quy tắc hoạt động của kế hoạch hoá tập trung, thế nhưng những
hình dung của ông về phân bổ hợp lý ăn khớp với kế hoạch hoá tập trung, và
không phù hợp với thị trường.
Thị trường, với tư cách là cơ chế điều phối chính của hệ thống
xã hội chủ nghĩa tương lai, là một tư tưởng phản-marxist quyết liệt. Không
chỉ xa lạ với các lời nói của Marx, mà – và điều này quan trọng hơn – còn xa
lạ với tinh thần thấu suốt Marx khi ông đối sánh chủ nghĩa tư bản với chủ
nghĩa xã hội.
Hệ tư tưởng. Marx là một trong những nhà khoa
học xã hội đầu tiên nhận ra vai trò quan trọng của hệ tư tưởng. Trong lúc đó,
bản thân ông lại không đòi vai trò và vầng hào quang của nhà tiên tri cho
mình. Có lẽ ông sẽ trở nên bối rối, giả như ông nhìn thấy các nhóm khác nhau
làm gì dưới ngọn cờ chủ nghĩa Marx một trăm năm sau. Ông đã thử tìm cách hiểu
hệ tư tưởng của chủ nghĩa tư bản, nhưng ông đã không vạch ra hệ tư tưởng mới
cho chủ nghĩa xã hội.
2. Giải nghĩa thứ
hai. Quan niệm walrasian về chủ nghĩa xã hội
Cách giải nghĩa này được phát triển trong môi trường bình
yên của thế giới hàn lâm. Người tiên phong đầu tiên, dựng lên cái lâu đài tư
duy có tên “lý thuyết chủ nghĩa xã hội” trong lịch sử trí tuệ của kinh tế
học, là một nhà kinh tế học Ý, Enrico Barone – học trò của Pareto. Tuy các
công trình ban đầu cũng tạo được tiếng vang nào đó trong giới kinh tế học,
nhưng nghiên cứu mang lại sự đột phá thực sự là nghiên cứu của nhà kinh tế
học Ba Lan, Oscar Lange, người đã phát triển lý thuyết chủ nghĩa xã hội riêng
của mình. Muộn hơn, vài nhà kinh tế học khác đã tiếp tục phát triển, diễn đạt
chi tiết các tư tưởng của Lange; trước hết là Abba Lerner, trong cuốn sách
Economics of Control có ảnh hưởng lớn của ông (Lerner, 1946). Để trình bày
một cách súc tích tôi chỉ giới hạn ở thảo luận lý thuyết của Lange.
Mô hình của Oscar Lange ăn khớp chặt chẽ với khung khổ lý
thuyết của kinh tế học walrasian (Lange, 1936-1937). Thật ra nó không khác sự
áp dụng đặc biệt của lý thuyết cân bằng chung mà Leon Walras là người tiên
phong và muộn hơn được Arrow, Debreu và các nhà nghiên cứu lý thuyết đương
đại khác đưa lên đỉnh điểm trong các công trình của họ. Không hợp lý ở đây đi
trình bày toàn bộ dòng tư duy, bởi vì đề tài của chúng ta chỉ là giải nghĩa
thuật ngữ chủ nghĩa xã hội.
Trong thế giới mô hình của Lange khái niệm chủ nghĩa xã
hội có nghĩa là công hữu – và không gì khác. Đây là điều kiện cần và đủ để hệ
thống nào đó được gọi là chủ nghĩa xã hội [trong lý thuyết này]. Tôi khuyến
nghị bạn đọc hãy đọc lại tiểu luận của Lange. Không tìm thấy trong đó một từ
duy nhất nào về quyền lực, về cơ cấu của chế độ chính trị, về hệ tư tưởng.
Chỉ có chế độ công hữu là có ý nghĩa.
Hãy nhảy qua các bước trung gian, và quy giản nội dung
thành kết luận cuối cùng! “Chủ nghĩa
xã hội thị trường” của Oscar Lange là một nền kinh tế dựa trên sở hữu công và
do thị trường điều phối. “Chủ nghĩa xã hội” và thị trường – theo Lange hai
hình thái kết cấu-định chế này phù hợp với nhau.
Mô hình Lange khuấy lên cơn bão lớn. Nó bị tấn công trong
hai chiến dịch. Sự bác bỏ đầu tiên được đưa ra trong tiểu luận xuất sắc của
Friedrich von Hayek (Hayek, 1935). Lập luận chính của Hayek là: không thể thu
thập, chứa và sử dụng khối thông tin và kiến thức khổng lồ cần thiết trong
một trung tâm duy nhất. Không thể thiếu các khuyến khích phân tán để thúc đẩy
việc tích tụ và sử dụng thông tin và kiến thức. Thị trường và sở hữu tư nhân
tạo ra những khuyến khích này và kết hợp các khuyến khích và thông tin một
cách tự động.
Làn sóng tấn công thứ hai nổ ra trong mối liên hệ với cải
cách của các nền kinh tế Xô Viết và xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Lập luận của
Hayek về các khuyến khích và thông tin được trụ đỡ bằng các bằng chứng kinh
nghiệm. Công trình riêng của tôi được cảm hứng từ kinh nghiệm cải cách, đã
cung cấp các lập luận thêm để bác bỏ lý thuyết của Lange. Rất ít có khả năng
để tạo ra một cách thành công các khuyến khích mạnh nhằm tối thiểu hoá chi
phí hay tối đa hoá lợi nhuận trong doanh nghiệp thuộc sở hữu công có ràng buộc
ngân sách mềm. (Lý thuyết Lange cho rằng hoạt động của các loại khuyến khích
mạnh như vậy là có thể thực hiện được mà không có khó khăn gì).
Thực ra, là không thể để gắn kết một cấu trúc-quyền sở hữu
được chọn một cách tùy tiện với một cơ chế điều phối được chọn một cách tùy
tiện. Có ái lực chặt giữa các hình thức sở hữu nhất định và các cơ chế điều
phối nhất định. Thị trường phân tán và sở hữu tư nhân gắn bó với nhau.
Một lập luận khác liên quan đến lĩnh vực chính trị và hệ
tư tưởng: hoạt động trơn tru, không vướng mắc của thị trường phụ thuộc vào
“bầu không khí’, đòi hỏi môi trường thân thiện với thị trường. Nếu các chính
trị gia chỉ huy đất nước là những kẻ thù không đội trời chung của phân quyền,
thì thị trường bị họ đày vào nền kinh tế đen và xám, và nó không thể trở
thành cơ chế điều phối và tích hợp chính của các hoạt động kinh tế.[5]
Sau khi sự thống trị của chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, đây đó
đã xuất hiện các tư tưởng chủ nghĩa xã hội thị trường, cùng với những hình
dung về “con đường thứ ba” khác. Thế nhưng những kiến nghị này đã bị bác bỏ
một cách cương quyết.
Trong những phần tiếp theo chúng ta hãy rời khỏi các cuộc
tranh luận hàn lâm, và ngó một chút vào
lich sử chính trị! Đã xảy ra sự chia rẽ đau đớn trong phong trào xã
hội chủ nghĩa vào thời chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Hai phong trào chính
trị, hai cương lĩnh, hai hệ tư tưởng đã tách ra khỏi nhau. Và không chỉ đã
tách ra khỏi nhau, mà còn bắt đầu đấu tranh với nhau, ở một số nơi và một số
thời kỳ với những hệ quả đáng buồn, thậm chí, bi thảm trong từng trường hợp.
3. Giải nghĩa thứ
ba. Quan niệm leninist về chủ nghĩa xã hội
Trong thời gian chiến tranh thế giới lần thứ nhất, với sự
lãnh đạo của Lenin đã hình thành các đảng cộng sản. Tôi không có ý định trình
bày từ đầu đến cuối giai đoạn lịch sử của các đảng cộng sản đã nắm quyền, bắt
đầu từ trước khi họ lên nắm quyền, và kết thúc khi họ mất quyền lực ở Liên Xô
và Đông Âu. Tôi chỉ tập trung duy nhất vào giai đoạn, trong đó quyền lực của
đảng cộng sản đã được củng cố, nhưng sự xói mòn quyền lực vẫn chưa bắt đầu.
Đây là giai đoạn mà tôi gọi là “chủ nghĩa xã hội cổ điển”. Thí dụ rõ ràng
nhất là nền cai trị của Stalin suốt vài thập kỷ, sau khi đã thanh toán xong
các kẻ thù của mình, đã thực hiện việc “tước đoạt những kẻ đi tước đoạt”, nói
cách khác khi quốc hữu hoá và tập thể hoá đã hoàn thành. Thời đại “chủ nghĩa
xã hội cổ điển” chấm dứt, khi việc “phi-Satlin hoá” đã bắt đầu sau cái chết
của kẻ bạo chúa. Sự thực hiện lịch sử của loại hệ thống đặc biệt này của chủ
nghĩa xã hội cổ điển cũng có thể thấy ở các nước khác. Tôi tóm tắt ngắn gọn
các đặc trưng chính của nó.
Cơ cấu chính trị. Thuật hùng biện của các đảng
leninist-stalinist thoá mạ và bác bỏ nền dân chủ. Các đảng tự hào tuyên bố
rằng chúng thực hành chế độ chuyên chế của giai cấp vô sản. Sự thực là, chúng
ta chứng kiến quyền lực không thể chia sẻ của đảng cộng sản. Đây là chế độ,
trong đó đảng cộng sản có độc quyền chính trị hoàn toàn. Họ không chỉ loại
trừ, mà còn truy nã và trấn áp một cách tàn bạo mọi lực lượng chính trị ganh
đua.
Sở hữu. Một đặc trưng căn bản của hệ
thống là trên thực tế tất cả tư liệu sản xuất đều thuộc sở hữu công. Việc
tịch thu tài sản tư nhân, quốc hữu hoá và tập thể hoá là một thành tố trung
tâm của cương lĩnh ngay cả trước khi giành được quyền lực, và vẫn tiếp tục là
nhiệm vụ trung tâm sau khi giành được quyền lực. Họ thực hiện cương lĩnh một
cách nhất quán và với sức mạnh tàn bạo. Tuy các hòn đảo nhỏ bé của sở hữu tư
nhân vẫn còn, thế nhưng quy mô của chúng hầu như không đáng kể, nếu so sánh
với quy mô của sở hữu công chiếm ưu thế.
Lập trường leninist đối lập gay gắt với sở hữu tư nhân. Nó
nhìn vào ngay cả những tàn tích nhỏ bé của sở hữu tư nhân cũng với tâm trạng
thù địch và ngờ vực. “Sản xuất hàng hóa nhỏ, tự nó và với quy mô hàng loạt,
sinh ra chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản một cách liên tục, từng giờ, từng
ngày.” (Lenin, 1920, 1974. tr. 6).
Điều phối. Ưu thế của chỉ huy tập trung (hay
trúng hơn chúng ta có thể nói, của quản lý tập trung) đã thay thế vai trò ưu
thế của thị trường. Hình thức điều phối này thường được gọi là “kế hoạch hoá
tập trung”. Chúng ta cho một phân tích chính xác hơn, nếu chúng ta gọi như
thế này: điều phối quan liêu, kiểm soát (control) tập trung, hệ thống hay
“nền kinh tế mệnh lệnh” (command economy) cưỡng ép việc thực hiện các mệnh
lệnh.
Điều phối thị trườngkhông có khả năng bị tiêu diệt hoàn
toàn. Nó đóng một vai trò nhất định – một phần dung hòa hợp pháp, một phần là
bất hợp pháp, trong các hình thức khác
nhau của “nền kinh tế xám” hay “đen”.
Hệ tư tưởng. Họ coi chủ nghĩa Marx (muộn hơn
chủ nghĩa Marx-Lenin, và muộn hơn nữa chủ nghĩa Marx-Lenin-Stalin hay chủ
nghĩa Mao) là linh thiêng, thần thánh, là bất khả xâm phạm. Dù nó không có
khả năng đạt tới sự độc quyền tuyệt đối trong đầu của tất cả mọi người, nó
chiếm vị trí độc quyền trong giáo dục, trong mọi xuất bản hợp pháp, trong các
phương tiện truyền thông, v.v và v.v. Hệ tư tưởng chính thống bác bỏ mọi tư
tưởng thân thiện với chủ nghĩa tư bản, với sở hữu tư nhân và với thị trường.
Theo hệ tư tưởng chính thống, hệ thống này là hệ thống duy
nhất có quyền tự gọi mình là “chủ nghĩa xã hội”. Lập trường
marxist-leninist-stalinist-maoist liên quan đến chủ nghĩa xã hội tuyệt nhiên
không tương hợp với sự chấp nhận bất cứ vai trò loại nào đó của thị trường
4. Giải nghĩa thứ
tư. Quan niệm xã hội dân chủ về chủ nghĩa xã hội
Đầu tiên ở đây chúng ta bàn về thời kỳ bao hàm một trăm
năm đầu (hay dài hơn) của [phong trào] dân chủ xã hội, cho đến tận các năm
1980. Chúng ta bỏ qua 20-25 năm cuối, trong thời gian đó đã xảy ra những thay
đổi đáng chú ý trong tư duy dân chủ xã hội. Cái mô hình lơ lửng trước mắt tôi
là hệ thống của Thuỵ Điển và các nước Scandinavian khác, rồi trong thời kỳ
lịch sử muộn hơn là hệ thống của Tây Đức và các nước Tây Âu khác. Phong trào
dân chủ xã hội theo các nguyên tắc xác định trong thời kỳ và ở các nước mà
tôi xem xét. Họ chấp nhận và áp dụng các nguyên tắc này, nếu họ lên nắm
quyền, nhưng cũng tôn trọng và tuyên truyền chúng khi không cầm quyền, tức là
trước khi họ giành chính quyền, hay sau khi họ thua một cuộc bầu cử.
Cơ cấu chính trị. Là người dân chủ xã hội có nghĩa
rằng phải chấp nhận nền dân chủ đại nghị vô điều kiện. Đường ranh giới sắc
nét vạch ra chính xác ở đây giữa hai phong trào lớn được tuyên bố với khẩu
hiệu của chủ nghĩa xã hội. Những người cộng sản muốn “chủ nghĩa xã hội” bằng
mọi giá. “Tốt, nếu giành được chính quyền bằng con đường bầu cử. Nhưng nếu
cách này không được, thì hãy giành lấy quyền lực bằng cách mạng, bằng bạo
lực, bằng cách cưỡng bức ý chí của đảng lên nhân dân!” Các nhà dân chủ xã hội
muốn thực hiện “chủ nghĩa xã hội” riêng “của họ”, theo hình dung của họ, khi
và chỉ khi, nếu đa số nhân dân ủng hộ cương lĩnh của họ, và bỏ phiếu cho đảng
của họ.
Đảng cộng sản, nếu đã lên nắm quyền, không muốn từ bỏ
quyền lực, cũng chẳng từ bỏ ngay cả trong trường hợp rõ ràng là đa số nhân
dân không ủng hộ. Không chịu đặt mình dưới sự thử thách của bầu cử quốc hội
dựa trên sự cạnh tranh của các đảng chính trị. Ngược hoàn toàn với cách này,
đảng dân chủ xã hội sẵn sàng từ bỏ quyền lực, nếu kết quả bầu cử chứng tỏ
rằng họ đã mất sự ủng hộ của đa số.
Sự chia rẽ giữa những người leninist và những người dân
chủ xã hội bắt đầu bằng các cuộc tranh luận nóng bỏng được tiến hành về chế
độ chuyên chế và cạnh tranh chính trị, về vai trò của quốc hội và bầu cử. Cho
đến tận ngày nay, đây là tiêu chuẩn chính để chúng ta phân biệt cách giải
nghĩa thứ ba và thứ tư về xã hội chủ nghĩa.
Sở hữu. Lập trường về vấn đề sở hữu – từ
chối sở hữu tư nhân “ngay lập tức chẳng cần suy nghĩ”- là xa lạ đối với dân
chủ xã hội. Các nhà dân chủ xã hội theo lối cũ đã bác bỏ các phương pháp thô
bạo để tịch thu tài sản tư nhân. Tuy nhiên ở một số nước, thí dụ Vương quốc
Anh, họ có khuynh hướng cho việc quốc hữu hoá một vai trò đáng kể. Kinh
nghiệm thế giới (và đặc biệt ở Liên Xô và Đông Âu một thời) đã gây ra những
ngờ vực về liệu các ngành công nghiệp được quốc hữu hoá có khả năng hoạt động
hữu hiệu hay không. Theo mức lan rộng của sự vỡ mộng [với việc quốc hữu hoá],
thì các nhà dân chủ xã hội từng bước từ bỏ các kế hoạch quốc hữu hoá của họ,
và chấp nhận ưu thế của sở hữu tư nhân. Cái vẫn tiếp tục được duy trì thuộc
sở hữu công (đa phần thuộc sở hữu của chính quyền tự trị địa phương) là phần
đáng kể của khu vực giáo dục và y tế.
Điều phối. Các nhà dân chủ xã hội không do
dự chấp nhận thị trường là cơ chế điều phối chính của các hoạt động kinh tế.
Thế nhưng họ không tin vào thị trường hoàn toàn tự do, không bị bất cứ sự
điều tiết hay can thiệp nào. Ngược lại, họ nhất quyết dùng quyền lực nhà nước
cho việc tái phân phối thu nhập. Thành quả vĩ đại của sự ảnh hưởng chính trị
của họ là nhà nước phúc lợi hiện đại, với tất cả các nét đặc điểm nổi tiếng
của nó: thuế luỹ tiến, giáo dục và dịch vụ y tế không mất tiền hay được trợ
cấp lớn của nhà nước, hệ thống hưu bổng nhà nước rộng khắp, bảo hiểm thất
nghiệp, hỗ trợ tiền bạc cho những người rất nghèo v.v. Quy mô của nhà nước
phúc lợi trong những ngày này dù có gây ra những mối lo ngại ngân sách đến
đâu, các nhà dân chủ xã hội cố gắng duy trì nó, họ cảm thấy: đây là kết quả
chủ yếu nhất của cuộc đấu tranh chính trị của họ, khi họ đấu tranh trên nghị
trường với tư cách đối lập, hay khi họ nắm chính quyền sau khi thắng trong
cuộc bầu cử.
Tóm tắt các nhận xét liên quan đến sở hữu và cơ chế điều
phối, chúng ta đi đến các kết luận sau đây. Các nhà dân chủ xã hội không muốn
tạo ra một “hệ thống xã hội chủ nghĩa” mới, khác căn bản với chủ nghĩa tư
bản. Họ nỗ lực cải cách hệ thống tư bản chủ nghĩa hiện tồn. Nói cách khác, họ
muốn thấy một biến thể, một loại của hệ thống tư bản chủ nghĩa sát hơn với
các lý tưởng chính trị và đạo đức của họ. Điều này bao gồm những việc sau
đây:
- tái phân phối
rộng rãi, vì lẽ công bằng và bình đẳng;
- thiết lập, duy trì và phát triển các định chế của nhà
nước phúc lợi hiện đại (hệ thống chăm sóc sức khoẻ quốc gia, giáo dục không
mất tiền, lương hưu cho mọi công dân [đến tuổi hưu], v.v.)
Dân chủ xã hội hiện đại tìm những con đường mới để khắc
phục những lo ngại tài khoá trầm trọng đi cùng với trách nhiệm do nhà nước
phúc lợi gánh vác. Các vấn đề tiếp tục trầm trọng hơn do áp lực của những
thay đổi nhân khẩu học, thêm nữa do tác động của toàn cầu hoá và tác động của
những hoàn cảnh mới nảy sinh trên thị trường lao động mà công nghệ thông tin
và truyền thông mới mang lại.[6] Tuy thế, tiếp tục còn các thành phần nhất
định của cách tiếp cận truyền thống dân chủ xã hội về tái phân phối và về
gánh vác trách nhiệm phúc lợi.
Hệ tư tưởng. Các lý tưởng, các giá trị và các
mục tiêu dân chủ xã hội gắn mật thiết với nhà nước phúc lợi và các quá trình
chính trị dân chủ. Một trăm năm trước bắt đầu diễn ra cuộc tranh luận giữa
hai “người cha” sáng lập; một bên là Lenin, người đứng đầu trào lưu cộng sản
muộn hơn của trong trào xã hội chủ nghĩa, còn bên kia là Karl Kautsky, một
trong những nhân vật có uy tín nhất trong số các lãnh tụ của trào lưu dân chủ
xã hội muộn hơn.[7] Khi đó cả hai bên bất đồng quan điểm vẫn đều dẫn chiếu
đến Marx như nguồn lý luận chung và người có uy quyền lớn nhất. Với thời gian
trôi đi, các nhà dân chủ xã hội ngày càng xa Marx hơn, và sau chiến tranh thế
giới lần thứ hai họ hoàn toàn đoạn tuyệt mọi quan hệ ý thức hệ mà trước đây
đã gắn kết họ với chủ nghĩa Marx. Các nhà dân chủ xã hội Đức tại hội nghị ở
Bad Godesberg năm 1959 đã mở ra một chương mới trong lịch sử phong trào của
họ. Phong trào dân chủ xã hội châu Âu đã công khai từ bỏ chủ nghĩa Marx, và
bỏ quốc hữu hoá khỏi các điểm căn bản của cương lĩnh của mình. Sớm muộn tất
cả các đảng dân chủ xã hội đã theo tấm gương Đức (Hodge, 1993, Przeworski,
1985).*
Bây giờ chúng ta chuyển sang vấn đề của Hội nghị bàn Tròn
5. Giải nghĩa thứ
năm. Giải nghĩa hiện thời của Trung Quốc về chủ nghĩa xã hội?
Có thể thấy dấu hỏi ở cuối tiêu đề phụ, bởi vì tôi chỉ
muốn nêu ra câu hỏi, và tôi không thử đưa ra câu trả lời. Nếu có câu trả lời
đi nữa, [câu trả lời] chưa chắc giống nhau ở Trung Quốc. Thế
nhưng, hãy gạt sang một bên sự khác nhau trong diễn giải khái niệm chủ nghĩa
xã hội giữa hai nước này. Ngay cả khi câu trả lời là khác nhau đi nữa, hợp lý
nêu ra cùng câu hỏi cho cả hai nước này.
Trong khi tôi không nhận việc đưa ra câu trả lời, tôi cố
gắng đưa ra vài nhận xét phủ định. Phần cho đến đây của tiểu luận đã phác hoạ
bốn loại giải nghĩa thuật ngữ chủ nghĩa xã hội. Cái có thể thấy bây giờ ở
Trung Quốc – tình trạng hiện thời và sự hình thành sắp tới của sự
vật – trong tương lai gần chẳng giống với một trong bốn loại nào cả.
Liên quan đến giải nghĩa thứ nhất – Marx là kẻ thù lớn
tiếng của sở hữu tư nhân, và biểu lộ sự hoài nghi sâu sắc đối với thị trường.
Ngược lại với điều
này ở Trung Quốc người ta để cho khu vực tư
nhân phát triển nhanh, và bây giờ đã tạo ra phần lớn hơn của GDP. Tỷ
lệ phần
đóng góp của nó ngày càng tăng, trong khi tỷ lệ của khu vực công hữu
co lại.
Phần áp đảo của cơ chế điều phối do thị trường đảm nhiệm. Trung Quốc
không còn là chế độ xã hội chủ nghĩa nữa, nếu chúng ta áp dụng cách
giải nghĩa của Marx về chủ nghĩa xã hội.
Liên quan đến giải nghĩa thứ hai – Trung Quốc không thể được coi là sự thể hiện lịch sử của kết cấu lý thuyết kiểu Lange.
Trong thế giới được trừu tượng hoá của Lange các tư liệu sản xuất thuộc sở
hữu công. Lange đã có nỗ lực trí tuệ lớn để chứng minh rằng thị trường có khả
năng đóng vai trò điều phối mà không có sở hữu tư nhân. Đúng, trong thế giới
thật của Trung Quốc thị trường đã trở thành cơ chế điều phối
chính. Có thể, đây là sự thay đổi có tác dụng tốt, thế nhưng – bởi vì đã diễn
ra những thay đổi sâu sắc trong cơ cấu sở hữu – trạng thái hiện thời chẳng
liên quan gì đến cái ảo ảnh mà trường phái trí tuệ “chủ nghĩa xã hội thị
trường” phác hoạ cả.
Liên quan đến giải nghĩa thứ ba – Trung Quốc vẫn duy trì một nét đặc trưng quan trọng đặc biệt của chủ nghĩa xã hội theo
cách giải nghĩa leninist. Cơ cấu chính trị về cơ bản không thay đổi. Đảng
cộng sản vẫn giữ độc quyền chính trị. Nhà nước đảng có quyền lực toàn trị vô
hạn. Không có cạnh tranh được phép hợp pháp gữa các đảng và các ý thức hệ, họ
trấn áp mọi sự đối lập, mọi phong trào suy nghĩ khác hay thực sự độc lập.
Mặt khác, cơ cấu sở hữu đã trải qua những thay đổi căn
bản; họ đã từ bỏ vai trò lãnh đạo của khu vực nhà nước. Họ đã giảm mạnh mẽ
vai trò của điều phối quan liêu và điều tiết tập trung, và thay bằng vai trò của thị trường ở mức độ đáng kể. Hệ
thống đã rời xa, rất xa khỏi hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển, và khá gần
với hệ thống tư bản chủ nghĩa điển hình.
Ý thức hệ chính thống cũng trải qua những thay đổi to lớn.
Đảng cộng sản, theo truyền thống thì đối kháng với sở hữu tư nhân và thị
trường, nay đã trở nên thân thiện với các định chế này. Thế giới quan chống
tư bản chủ nghĩa gay gắt trước kia đã chuyển theo hướng các giá trị và các
nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản. Ngày nay các đảng cộng sản của hai nước này
thân thiện với chủ nghĩa tư bản – nhưng họ nguỵ trang thái độ này bằng các
khẩu hiệu marxist-leninist, bằng các tuyên bố trung thành với tư tưởng Mao.
Liên quan đến giải nghĩa thứ tư – thiếu hai nét đặc trưng
chính của nền dân chủ xã hội thực sự. Trước tiên, họ giữ chế độ chuyên chế và
hệ thống độc đảng, và họ bác bỏ một cách điên cuồng bầu cử dựa trên cạnh
tranh chính trị.
Thứ đến, chế độ thống trị cộng sản theo kiểu cũ đã nỗ lực
một cách nghiêm túc để xây dựng nhà nước phúc lợi, chí ít các thành phần nhất
định, trong khu vực giáo dục và y tế, cũng như trong hệ thống hưu bổng. Quyền
được hưởng đã mở rộng ra cho tất cả công dân hay – về một số dịch vụ – chí ít
cho người lao động của các xí nghiệp thuộc sở hữu công. Khi họ làm việc này,
tất nhiên trình độ sản xuất và phát triển kinh tế thấp đã hạn chế các khả
năng của các chính phủ khi đó. Những nỗ lực đó đã không thể dẫn đến một nhà
nước phúc lợi hiện đại có nền móng tốt. Ở những điểm nhất định họ thậm chí
còn vượt quá các giới hạn nguồn lực có thể dùng cho mục đích này, và đã tạo
ra một nhà nước phúc lợi đẻ non. Tình hình này bây giờ đã chấm dứt! Nhà nước
đã bắt đầu rút lui khỏi lĩnh vực dịch vụ phúc lợi vì lợi ích của cân bằng
ngân sách thuận lợi hơn và của tính cạnh tranh hữu hiệu của khu vực tư nhân.
Mức tái phân phối giảm đi, sự bất bình đẳng tăng lên đầy kịch tính, khoảng
cách giàu nghèo doãng ra. Trung Quốc không tiến gần (ở mức độ
tương đối, về mặt phân chia thu nhập và cơ cấu các dịch vụ phúc lợi) đến mô
hình dân chủ xã hội Scandinavian, mà đúng hơn tiến theo hướng mô hình của
Manchester đầu thế kỷ thứ 19 hay mô hình của các nước Mỹ-Latin vô cùng bất
bình đẳng.
Bốn câu trả lời không
dứt khoát – đây là câu trả lời phủ
định được nhấn mạnh cho câu hỏi, liệu hệ thống đang hoạt động ở Trung
Quốc có thể gọi là “chủ nghĩa xã hội” hay không, nếu chúng ta áp dụng
bất
cứ loại giải nghĩa nào trong số bốn giải nghĩa đã được mô tả trong
tiểu
luận.[8]
Đây là sự quan sát sự thật, và không có bất cứ ngụ ý chuẩn
tắc nào cả. Trong con mắt của tôi danh hiệu chủ nghĩa xã hội không phải là
huân chương khen thưởng. Tôi không phải là người thuyết giảng và người ủng hộ
của chủ nghĩa xã hội leninist. Tôi không bàn vấn đề, liệu Trung Quốc “có xứng đáng hay không” để được
gọi là các nước xã hội chủ nghĩa, hay đã rời hay chưa khỏi con đường
leninist. Tương tự, tôi không là nhà tuyên truyền của dân chủ xã hội, và vì
thế liên quan đến luận giải này tôi không gắn sự đánh giá cho nhận xét rằng
các nước này không theo hình mẫu dân chủ xã hội xét trên khía cạnh dân chủ
đại nghị và nhà nước phúc lợi.
Chủ nghĩa xã hội – đây không phải là nhãn hiệu đã được
đăng ký. Chẳng ai được trao quyền để đưa ra định nghĩa riêng duy nhất và có
hiệu lực bắt buộc, và đưa ra yêu sách, theo đó chỉ có định nghĩa của anh ta
là hợp pháp. Nếu lãnh đạo Trung Quốc khăng khăng gọi chế độ
riêng của họ là “xã hội chủ nghĩa”, chẳng ai có thể từ chối quyền làm như vậy
của họ. Tất nhiên đối với các nhà nghiên cứu khoa học, những người chuyên
nghiên cứu về các ý thức hệ, các biểu tượng, các nghi thức (lễ), các thuật
hùng biện chính trị, thì câu hỏi hấp dẫn vẫn còn: động cơ của sự khăng khăng
này là cái gì?
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã chấp nhận rủi
ro, để rời khỏi con đường leninist, để cũng không bước sang con đường dân chủ
xã hội, mà đã quyết định bước sang con đường mới bằng các việc làm, bằng hành
động. Vì sao họ lại bảo thủ và ngoan cố đến vậy trong việc tiếp tục rêu rao
các từ ngữ cũ? Vì sao họ lại tiếp tục treo các nhãn mác cũ? Các nhà nghiên
cứu lịch sử hệ tư tưởng có lẽ có khả năng trả lời câu hỏi đó. Trong mọi hoàn
cảnh, sự quan sát này chứng minh rằng lời lẽ có ý nghĩa của nó. Trong lĩnh
vực chính trị (và có lẽ cả trong cuộc sống riêng tư nữa) nhiều khi thực hiện
sự rẽ ngoặt bằng hành động thực tế là dễ hơn việc thú nhận rằng mình đã trở
thành kẻ phản bội các tín điều và các giá trị được thừa nhận trước kia. Từ
Saulus trở thành Paulus – công khai thú nhận, rằng mình đã cải đạo, đã thay
đổi niềm tin và chấp nhận tất cả các hệ quả của sự thay đổi đó – đây là sự
kiện hiếm, rất hiếm trong lịch sử chính trị.
Các trí thức, những người sống bằng từ ngữ viết hay lời
nói, thử làm rõ các khái niệm một cách sốt sắng. Thế nhưng, cuộc sống vẫn
tiếp tục diễn ra giữa sự loạn khái niệm. Trong tiểu luận này tôi thử làm rõ
khái niệm. Nỗ lực này có dẫn đến kết quả bất luận như thế nào đi nữa – chúng
ta phải tiếp tục nghiên cứu các cuộc cải cách ở Trung Quốc, ngay
cả nếu chúng ta không biết quyết định phải gọi hệ thống hiện tồn trong hai
nước này như thế nào. Quan trọng nhất là chúng ta biết được bản chất thực của
những thay đổi diễn ra ở đó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét